Gốc > DẠY - HỌC TOÁN > Lớp 1 >

Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học tiểu học

toan_9-9_01

1. Về tầm quan trọng của tư duy sáng tạo

Tư duy nói chung, trong đó có tư duy sáng tạo có tầm quan trọng vô cùng đặc biệt đối với sự phát triển các nền văn minh của loài người. Từ các bậc hiền triết đến các nhà giáo dục từ cổ chí kim đều thừa nhận điều này. Từ thời Khổng Tử đã rất coi trọng mối quan hệ giữa các khâu của giáo dục. Ông nhấn mạnh trong dạy học cần tuân thủ: học đi đôi với tư (tư là tư duy), với tập, với hành. Ngạn ngữ cổ Hi Lạp cũng nhấn mạnh: “Dạy học không phải là rót kiến thức vào một chiếc thùng rỗng mà là thắp sáng lên những ngọn lửa”.  Ngọn lửa được hiểu là tư duy. Ở phương Tây, tư duy càng được coi trọng: “Tư duy tạo nên sự cao cả của con người (Pascal); Ở ta, các nhà lãnh đạo, các nhà giáo dục cũng vô cùng nhấn mạnh đến vai trò của tư duy. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Điều chủ yếu không phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn độn,… mà là phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề. Vai trò của tư duy cũng được nhấn mạnh trong Luật Giáo dục trong các thời kì, và đến nay nó được nâng lên ở tầm chiến lược trong giáo dục phát triển con người thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Như vậy, tư duy sáng tạo là một phẩm chất trí tuệ quan trọng của con người. Không một cách giải quyết vấn đề nào mà không đòi hỏi phải sáng tạo. Do vậy, tư duy sáng tạo không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà tâm lý học mà còn thu hút các nhà khoa học sư phạm, bởi nó có mối quan hệ sâu sắc với hoạt động học tập của học sinh trong nhà trường đặc biệt là với việc phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách toàn diện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
 
2. Cần thiết phải phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ngay từ cấp tiểu học

Theo Luật Giáo dục 2005, những mục tiêu cơ bản của bậc học phổ thông nói chung, bậc học tiểu học nói riêng là hình thành và phát triển được nền tảng tư duy của con người trong thời đại mới, bao gồm: Những kiến thức và kĩ nẵng cơ bản như: đọc, viết, tính toán và những kiến thức cơ bản của các môn học trong nhà trường phổ thông; những kĩ năng tư duy và hoạt động sáng tạo như: biết cách suy luận, phát hiện và giải quyết vấn đề, biết cách học và tự học, có tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,… ; phẩm chất và nhân cách con người mới như: có bản lĩnh, có ý thức và tinh thần trách nhiệm, trung thực, biết tự quản lý và làm chủ bản thân, có đời sống nội tâm phong phú, có nhân cách cao cả,… Trong đó, mục tiêu phát triển năng lực giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo ở người học được vô cùng coi trọng. Điều này thể hiện trong nhà trường chính là thông qua dạy kiến thức để hình thành và phát triển năng lực tư duy, phát triển trí tuệ, tư duy sáng tạo và các phẩm chất nhân cách khác của học sinh. Như vậy, thông qua dạy và học để tạo nền móng trí tuệ, cách thức giải quyết vấn đề, hoạt động sáng tạo ở người học được xem như một trong những mục tiêu cơ bản, trọng tâm của giáo dục ở nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường tiểu học nói riêng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh cũng chính là đỏi hỏi của chính bản thân học sinh để có thể có cơ hội học tập tốt hơn, được thừa nhận và tôn trọng, có điều kiện tốt hơn để thành công. Có tư duy sáng tạo là điều kiện tiên quyết giúp học sinh có cái nhìn phê phán, biện chứng đối với mọi vấn đề để từ đó có những giải pháp thích hợp, thông minh, hiệu quả hơn.
Ngoài ra, để phát triển nhân cách toàn diện đòi hỏi cần thiết phải hình thành tư duy sáng tạo cho học sinh. Trong hoạt động tích cực của bản thân, thì nhân cách, một cấu trúc gồm đức và tài, năng lực và phẩm chất, trong đó năng lực sáng tạo chính là yếu tố không thể thiếu của cả năng lực và phẩm chất của một nhân cách toàn diện. Như vậy, có khả năng tư duy sáng tạo sẽ giúp học sinh luôn biết điều chỉnh mình ( có kĩ năng kiềm chế cảm xúc, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, tránh xung đột,…) để luôn có trạng thái tâm lý tốt, từ đó luôn có được thái độ tích cực đối với cuộc sống, có tinh thần khắc phục những sai lầm, thiếu sót để hoàn thiện bản thân.
Hơn nữa, tư duy sáng tạo là đòi hỏi tự thân của quá trình học tập. Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng tư duy sáng tạo có vai trò rất to lớn đối với hoạt động nhận thức của con người. Cụ thể, tư duy sáng tạo không chỉ mở rộng giới hạn của nhận thức mà còn có khả năng để vượt ra ngoài những giới hạn của kinh nghiệm trực tiếp để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng tìm ra những mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng với nhau. Tư duy sáng tạo không chỉ giúp giải quyết những nhiệm vụ trước mắt mà còn có khả năng giải quyết những nhiệm vụ mang tính lâu dài. Nó cải tạo lại thông tin, giải quyết những cái tương tự nhưng chưa biết, làm tiết kiệm công sức của con người, giúp con người hành động hiệu quả hơn. Có tư duy sáng tạo, ngoài giúp cho việc học tập và tiếp thu tri thức tốt hơn, nó còn giúp học sinh có bộ óc thông minh, tỉnh táo để phát hiện và giải quyết những vấn đề phức tạp, tránh được những mối nguy hiểm, những tác động xấu của môi trường xung quanh. Nếu không có khả năng tư duy sáng tạo thì học sinh không thể và rất khó khăn trong giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập và trong cuộc sống.
Với nhà trường tiểu học, rèn luyện tư duy đặc biệt là tư duy sáng tạo là một đòi hỏi của chính quá trình giáo dục, là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản trong mục tiêu giáo dục toàn diện. Tư duy sáng tạo không chỉ đáp ứng quá trình nhận thức, chiếm lĩnh những tri thức khoa học nền tảng với yêu cầu ngày một cao, nó còn là đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập, hoạt động thực tiễn ngày một cao và phức tạp đối với sự phát triển toàn diện nhân cách cá nhân, đồng thời thích ứng nhanh với cuộc sống năng động ngày nay ngay từ khi còn là học sinh đầu bậc học phổ thông.
 
3.  Một ví dụ về phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học bài toán chuyển động đều ở tiểu học

 3.1. Đặc trưng của bài toán chuyển động đều
Toán chuyển động đều là một trong những loại toán có văn điển hình ở tiểu học. Nó có đặc điểm chung là nghiên cứu về các mối quan hệ giữa 3 đại lượng: Quãng đư­ờng, vận tốc, thời gian. Toán chuyển động mang tính đa dạng và tính trừu tượng. Tính da dạng thể hiện ở các tình huống chuyển động hết sức đa dạng trong thực tế. Tính trừu tượng thể hiện ở nhiều tầng bậc các quan hệ vừa mang tính chung, vừa mang tính riêng, tính đặc thù. Chẳng hạn quan hệ tỉ lệ giữa các đại lượng mang tính đặc thù của toán chuyển động như: quan hệ tỉ lệ thuận giữa vận tốc và quãng đường khi đi cùng một thời gian, quãng đường và thời gian khi đi cùng vận tốc hay quan hệ tỉ lệ nghịch giữa vận tốc và thời gian khi đi trên cùng một quãng đường,... đã làm cho mối quan hệ của các yếu tố trong bài toán bị ẩn đi, biến dạng đi hết sức phức tạp.
3.2.  Lợi thế của toán chuyển động đều trong phát triển tư duy sáng tạo
Toán chuyển động đều thực chất thể hiện quan điểm hàm số, quan điểm ánh xạ của toán học hiện đại vào chương trình tiểu học. Nó có những giá trị biến thiên rất khó xác định. Những giá trị biến thiên này không nằm trong tình huống chuyển động cụ thể mà nằm trong mối quan hệ giữa các đại lượng. Nó chỉ có thể nhận thức bằng suy luận, bằng tưởng tượng.
Tư duy sáng tạo phản ánh tính linh hoạt, mềm dẻo trong giải quyết vấn đề, tính nhuần nhuyễn, sự nhạy cảm trong nhận thức vấn đề, sự toàn diện và sắc xảo trong xét đoán vấn đề và đặt vấn đề. Lấy cái cụ thể để nhận thức cái trừu tượng. Đặc trưng này có nét tương đồng với đặc trưng của toán chuyển động đều. Chỉ có khác ở chỗ một bên là nguyên liệu, một bên là phương pháp gia công.Chính điều này làm cho việc giải các bài toán chuyển động có tác dụng rất tốt trong việc phát triển trí thông minh, óc sáng tạo cho học sinh.
3.3. phát triển TDST cho HS qua giải bài toán chuyển động đều
Vì tư duy chỉ nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Chỉ khi hoạt động với những tác động phù hợp mới làm cho tư duy phát triển theo những mức độ và cấp độ khác nhau nên phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh qua dạy học môn toán được xem là việc hướng dẫn, gợi mở để các em thực hiện một chuỗi phức hợp các thao tác tư duy một cách linh hoạt, sáng tạo trong quá trình giải bài toán.
Chẳng hạn, để giải bài toán tính quãng đư­ờng, thông thường chỉ cần biết được vận tốc và thời gian của chuyển động. Các yếu tố này thường cho trực tiếp hoặc có thể suy ra được. Tuy vậy trong nhiều trường hợp, ta có thể tìm được quãng đường mà không cần đủ, thậm chí không cần sự có mặt của các điều kiện trên. Khi đó người ta dựa vào mối liên hệ, quan hệ tỉ lệ giữa các đại lượng liên quan. Hoặc với bài toán mà các yếu tố, dữ liệu không được cho trực tiếp. Muốn tìm chúng, cần phải giải các bài toán phụ. Bài toán phụ cũng không phải có sẵn mà được suy ra từ kết quả của cả một quá trình phân tích, suy luận, nhiều khi hết sức phức tạp. Bài toán dưới đây là một ví dụ:
Một ô tô phải chạy từ A đến B. Sau khi chạy được 1 giờ thì ô tô giảm vận tốc chỉ còn bằng 3/5 vận tốc ban đầu, vì thế ô tô đến B chậm mất 2 giờ. Nếu từ A, sau khi chạy được 1 giờ, ô tô chạy thêm 50 km nữa rồi mới giảm vận tốc thì ô tô đến B chỉ chậm 1 giờ 20 phút. Tính quãng đường AB.
Bài toán yêu cầu: Tính quãng đường AB. Như vậy cần biết vận tốc và thời gian. Nhưng cả vận tốc và thời gian đều không được cho trực tiếp. Vậy làm thế nào để tìm chúng? Phân tích đi từ quan hệ tỉ lệ giữa vận tốc và thời gian trên cùng quãng đường? Khai thác từ tỉ số vận tốc ban đầu và vận tốc đã giảm? Chênh lệch thời gian giữa chậm 2giờ và chậm 1giờ 20phút nói lên điều gì? ... là những câu hỏi gợi ra một số hướng khai thác, phân tích bài toán. Đây là một hướng phân tích dẫn đến lời giải bài toán:
Thậy vậy, trên cùng một quãng đường thì thời gian và vận tốc là hai đại lượng tỉ lệ nghịch. Giả sử vận tốc lúc đầu là 5 phần thì vận tốc lúc sau chỉ là 3 phần. Do đó nếu đi với vận tốc ban đầu hết khoảng thời gian là 3 phần thì khi đi với vận tốc lúc sau hết khoảng thời gian là 5 phần.
Giả sử sau 1 giờ ô tô chạy tới C.
 
 
 
50km
 

 

 
C
 
D
 
B
 
A

                                                                                                                

Nếu thời gian đi trên đoạn CB theo vận tốc ban đầu là 3 phần thì thời gian đi trên đoạn CB theo vận tốc đã giảm là 5 phần. Hai phần nhiều hơn ứng với 2 giờ. Vậy 1 phần là 1 giờ, suy ra thời gian đi trên đoạn CB với vận tốc ban đầu là 3 giờ.

Nếu thời gian đi trên đoạn DB theo vận tốc ban đầu là 3 phần thì thời gian đi trên đoạn DB theo vận tốc đã giảm là 5 phần. Hai phần nhiều hơn ứng với 1giờ20phút.
Vậy thời gian đi trên đoạn DB với vận tốc ban đầu là:
( 1giờ20phút  x  3 ) : 2  =  2 giờ
 Nên thời gian đi đoạn CD với vận tốc ban đầu là:   3giờ - 2giờ = 1giờ
Suy ra vận tốc ban đầu là 50 km/giờ còn quãng đ­ường AB dài:
50  x (3 +1) = 200 (km)
Để có được lời giải trên, cần hướng dẫn HS vận dụng các thao tác tư duy để: 
- Khai thác quan hệ tỉ lệ giữa vận tốc và thời gian để suy ra đ­ược thời gian đi với vận tốc lúc đầu là 3 phần thì thời gian đi với vận tốc đã giảm là 5 phần.(*)
- Từ chênh lệch về số phần thời gian này để suy ra một điều kiện quan trọng là: hai phần thời gian này ứng với 2giờ. Suy ra một điều kiện tiếp theo là thời gian đi đoạn đường còn lại (sau khi đã đi được 1giờ) với vận tốc cũ là 3giờ.(**)
- Từ chênh lệch giữa thời gian đi đoạn đường DB ( tức đoạn còn lại mà sau khi đi được 1giờ, ôtô đi thêm 50km nữa rồi mới giảm vận tốc) với vận tốc cũ và vận tốc đã giảm là 2phần nhiều hơn ứng với 1giờ 20phút, suy ra thời gian đi đoạn DB với vận tốc lúc đầu là 2giờ.(***)
- Kết hợp các phân tích bộ phận trên cho ra một điều kiện mới là thời gian đi 50km với vận tốc ban đầu là 1giờ. Tức vận tốc ban đầu là 50km/giờ.
- Kết hợp điều kiện đã cho trong bài toán về thời gian là: đi đoạn đường đầu tiên trong 1giờ, kết hợp với điều kiện trong (**) để suy ra thời gian đi quãng đường AB của ôtô là 4giờ.
- Tổng hợp tất cả các điều kiện đã phân tích trên cho ra bài giải với đáp số: quãng đường AB là 200km.
Như vậy, để phát triển được tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua hướng dẫn HS giải bài toán trên, GV cần có sự tác động phù hợp thông qua hệ thống câu hỏi trong suốt quá trình hướng dẫn HS giải toán mà sự tác động này phải kích thích được TDST ở HS. Việc rèn luyện thao tác trừu tượng hoá như sơ đồ hoá bài toán, tóm tắt bài toán, đặt lại đề toán... sẽ giúp HS hoá giải được tính trừu tượng và lôgíc cao của dạng toán này. Tuỳ theo mục tiêu của từng tiết học mà tính chất, cấp độ câu hỏi khác nhau: từ câu hỏi yêu cầu nhớ lại kiến thức đến câu hỏi nhận xét, nêu lý do, đánh giá như tại sao? như thế nào? có tác dụng gì? hãy giải thích và nhận xét?.... Đồng thời bản thân các câu hỏi đó phải hướng vào các quá trình tư duy cụ thể. Khi đó tư duy sáng tạo sẽ có điều kiện phát triển.
 
Kết luận: Phát triển tư duy sáng tạo chính là chuyển những đặc tính của tư duy sáng tạo sang những hoạt động, những cách thức rèn luyện trong hoạt động dạy học. Tức chuyển từ những hoạt động tâm lý sang các hoạt động giáo dục. Bài toán chuyển động đều là khó đối với HS tiểu học bởi tính lôgíc, tính trừu tượng cao nên đồng thời với việc phát triển các đặc trưng tư duy sáng tạo còn đồng thời rèn các kĩ năng suy luận tiền lôgíc, kĩ năng diễn đạt, khả năng tưởng tượng,... kích thích hứng thú học tập của học sinh với những bài toán chuyển động vô cùng sinh động. Đó chính là cách phát triển tư duy sáng tạo hữu hiệu nhất.
 
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Văn Huệ, Tâm lý học Tiểu học. NXB Giáo dục, HN - 1997
2. Đức Uy, Tâm lý học sáng tạo. NXB, Giáo dục  1999
3. Duy Lập, Phát triển trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ. NXB Thanh niên, HN - 2008
4. G. Pôlia, Sáng tạo toán học ( người dịch: Phan Tất Đắc, Nguyễn Giản, Hồ Thuần ). NXB Giáo dục, HN  1976
5. Trần Luận, Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua hệ thống bài tập. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 8/1995.
6. Trần Diên Hiển, Thực hành giải toán tiểu học ( tập I, II). NXB ĐHSP, HN - 2002
 
Tóm tắt:

Trong giáo dục và đào tạo con người, tư duy sáng tạo có vai trò vô cùng quan trọng và là yếu tố không thể thiếu của quá trình phát triển nhân cách toàn diện. Để đáp ứng được những đòi hỏi trên, ngay từ cấp học tiểu học chúng ta đã cần thiết phải phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Có thể khẳng định mọi môn học ở tiểu học đều có tiềm năng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Tuy nhiên môn toán có nhiều đặc trưng tương đồng với các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo nên có lợi thế để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh mà trong dạy học giáo viên cần khai thác. Trong bài viết này, việc dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học được tác giải minh họa qua hướng dẫn giải hai bài toán chuyển động đều.

                                                                                                                 

                                                                                                               ThS. Đỗ Ngọc Miên

                                                                                                 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam


Phan Duy Nghĩa @ 10:42 11/05/2012
Số lượt xem: 1743
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến
print

CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM CÂU LẠC BỘ TOÁN TIỂU HỌC – XIN CHÀO VÀ HẸN GẶP LẠI

tth123_500