Gốc > DẠY - HỌC TOÁN > Những vấn đề chung >

Kinh nghiệm dạy toán có nội dung hình học ở cấp tiểu học

Thực tế các bài toán có nội dung hình học, toán có liên quan đến diện tích, thể tích,… là khó đối với học sinh tiểu học. Cái khó là tư duy học sinh đang ở thao tác cụ thể là chủ yếu, mà các em đã phải xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ tổng thể, liên tục.
Các em phải nắm, hiểu, nhớ đầy đủ cả một hệ thống công thức tính chu vi, diện tích, thể tích các hình. Đồng thời phải biết vận dụng công thức đó nhuần nhuyễn khi giải các bài toán có liên quan. Vì vậy, học sinh thường gặp khó khăn hay lẫn lộn các đặc điểm, thuộc tính, khái niệm, công thức, đơn vị đo…. Do vậy việc giải toán của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy học của người thầy.

 
Xuất phát từ những lý do trên cùng với mong muốn nâng cao hiệu quả của việc dạy học toán cho học sinh tiểu học, tôi xin đề xuất một số giải pháp chỉ đạo dạy học nội dung này như sau:
A. Về nội dung dạy học
1. Để nhận dạng các hình, đầu tiên giáo viên giới thiệu cho học sinh các hình đơn giản, các hình học được tri giác như là “một toàn thể” gắn liền với hình dạng của chúng, chưa chú ý phân tích các yếu tố và đặc điểm của hình.
Tiếp theo là giáo viên rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhận dạng chính xác các hình nhờ các yếu tố và đặc điểm của hình bằng cách cắt, ghép, gấp hình, sử dụng các dụng cụ để kiểm tra. Tuỳ theo tình huống cụ thể, bài cụ thể, giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện, tìm ra hình một cách khoa học sao cho không bỏ sót, không trùng lặp, không thừa, không thiếu.
2. Vẽ hình là biện pháp quan trọng để nhận dạng các hình. Các cạnh hình vuông, hình chữ nhật, hình tứ giác, hình tam giác, đường cao của hình tam giác, bán kính của đường tròn, …đều là đoạn thẳng, đỉnh các hình kể trên, đỉnh của góc, tâm của đường tròn,…đều là điểm; điểm cũng là giao của hai đoạn thẳng.
Để vẽ một đoạn thẳng phải dùng thước thẳng nối hai điểm với nhau.
Giáo viên giới thiệu cho học sinh những dụng cụ thường dùng để vẽ các hình tương ứng đã học và biết lựa chọn dụng cụ thích hợp phù hợp với việc vẽ hình.
Đối với mỗi hình đã vẽ, giáo viên hướng dẫn học sinh cách ghi tên, gọi tên từng điểm bằng các chữ cái và tập cho học sinh thói quen tự kiểm tra.
3. Giáo viên hướng dẫn học sinh cách mô tả các hình hình học. Việc mô tả có thể sử dụng ngôn ngữ nói hoặc viết: sử dụng ngôn ngữ nói là đọc trên hình vẽ hoặc mô tả hình vẽ một cách trực tiếp hoặc trả lời câu hỏi; ngôn ngữ viết là các hình vẽ, cách trình bày các khái niệm hoặc lời giải.
Khi mô tả giáo viên nên kết hợp vẽ hình và chỉ rõ từng yếu tố của hình. Giáo viên có thể cắt, ghép, gấp, xếp các hình hình học dưới dạng trò chơi. Từ đó giáo viên bồi dưỡng và phát triển năng lực phân tích, tổng hợp và sáng tạo ở mỗi học sinh.
4. Giáo viên hướng dẫn học sinh giải các bài tập có nội dung hình học. Thông qua việc giải các bài toán có nội dung hình học giáo viên củng cố nhận thức của học sinh về các yếu tố hình học.
Các bài toán đưa ra cần ngắn gọn, chính xác, dễ nhớ, dễ hiểu từ đơn giản đến phức tạp.
     Ví dụ:    Dạy về diện tích hình thang
Bước 1:    Giáo viên đọc đề toán.

  • Mỗi học sinh lấy hình thang đã chuẩn bị. Hãy xác định trên hình thang các yếu tố: đỉnh, đáy, cạnh bên, chiều cao…
  • Tóm tắt bài toán: Học sinh tự ghi vào hình vẽ đã chuẩn bị của mình.

Bước 2 :  -Hãy suy nghĩ tìm cách tính diện tích hình thang đó?
                -Chúng ta hãy biến đổi hình thang về hình mà đã biết công thức tính diện tích.                              
                -Các nhóm trao đổi tìm kết quả.
Bước 3:   Giúp đỡ học sinh biến đổi đưa hình thang về hình tam giác, về hình chữ nhật.   
Bước 4:   Ghi kết quả thảo luận.
            Chọn một cách trình bày.
            Qua kết quả yêu cầu học sinh khái quát và phát biểu quy tắc.
                                                
         Bước 5: Áp dụng
            Tính diện tích hình thang trong các trường hợp:
            a)  b = 5m ;           a = 16 m;         h = 14 m
           b)  a = 4,7 m;        b = 0,4 m;        h = 1,1 m
B. Về phương pháp dạy học
            Bài dạy toán thường có 2 phần: Dạy lý thuyết và thực hành giải bài tập. Từ xưa tới nay trong phần giải bài tập, chúng ta vẫn tổ chức cho học sinh làm việc bằng tay.
            Nhưng phần lý thuyết giáo viên chủ yếu đang dùng phương pháp đàm thoại (Thầy hỏi- trò trả lời) nhận xét để dẫn dắt học sinh tìm kiến thức mới. Cách dạy này không thoả mãn được một cách chắc chắn học sinh nắm vững kiến thức. “Tất cả học sinh đều phải làm việc’’ do vậy dạy bài mới cần phải được thao tác hoá.
            Thứ nhất: Chuyển từ hình thức đàm thoại thông thường sang hình thức đàm thoại mới,trong đó giáo viên nêu câu hỏi dưới dạng lệnh làm việc, còn học sinh trả lời làm theo lệnh của giáo viên. Những học sinh nào không làm việc thì giáo viên biết ngay và nhắc nhở kịp thời.
            Nhờ có việc thao tác này mà giáo viên tổ chức được cho tất cả học sinh phải làm việc và kiểm soát được từng quá trình làm việc đó.
            Thứ hai: Chuyển từ hình thức trực quan “thầy làm - trò xem” sang hình thức trực quan “trò làm – thầy xem, gợi ý hướng dẫn”.
            Ở tiểu học, các em chỉ biết tiếp thu các kiến thức hình học trực tiếp, dựa trên các hoạt động thực hành đo đạc, tô vẽ, cắt ghép, gấp hình…
            Do vậy phương tiện trực quan trong việc dạy toán diện tích là không thể thiếu được.
C. Một số lưu ý trong quá trình tổ chức dạy học
            Lưu ý 1: Về cắt ghép hình
            Khi hướng dẫn học sinh giải bài tập cắt, ghép hình giáo viên tổ chức thực hành cắt ghép theo quy trình dưới đây:
            - Vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông (sao cho có thể nhận thấy hình vẽ và bao gồm bao nhiêu ô vuông).
            - Nhận xét hình vẽ và các đặc điểm của hình đã cho (diện tích, số ô vuông, hình dạng, góc cạnh).
            - Đối chiếu với các yêu cầu của hình phải tạo thành, có yêu cầu nào được thoả mãn từ hình vẽ trên dưới ô vuông.  
            - Xác định bộ phận nào của hình cần phải cắt, ghép (bao gồm các ô có liên quan). Phân tích và so sánh mối quan hệ giữa các ô vuông, chú ý sử dụng các đỉnh và các cạnh của hình ban đầu để tạo ra hình mới.
            - Cắt ghép các ô vuông liên quan dựa trên sự phân tích của các bước trên.
            Lưu ý 2: Sử dụng phương pháp dùng tỉ số
            Trong một số bài toán hình học, người ta có thể dùng tỉ số các số đo đoạn thẳng, tỉ số các số đo diện tích như một phương tiện để tính toán, giải thích lập luận, cũng như so sánh các giá trị về độ dài đoạn thẳng, về diện tích hoặc thể tích. Điều này cũng thường được thể hiện dưới hình thức sau (Chẳng hạn đối với hình tam giác).
            a. Hai hình tam giác có diện tích bằng nhau: Nếu có hai đáy bằng nhau thì chiều cao bằng nhau. Hoặc nếu có hai chiều cao bằng nhau thì hai đáy bằng nhau.
            b. Hai hình tam giác có diện tích bằng nhau. Nếu đáy của hình 1 lớn hơn gấp bao nhiêu lần đáy của hình 2 thì chiều cao của hình 2 lớn hơn gấp bấy nhiêu lần đáy của hình 1.
            c. Hai hình tam giác có hai đáy hoặc chiều cao bằng nhau nếu diện tích của hình tam giác 1 lớn gấp bao nhiêu lần diện tích của tam giác 2 thì chiều cao (đáy) của hình tam giác 1 cũng lớn gấp bấy nhiêu lần chiều cao của tam giác 2 và ngược lại.
            Lưu ý 3: Về thực hiện phép tính trên số đo diện tích và các thao tác tổng hợp trên hình
            Có những bài toán hình học đòi hỏi phải biết vận dụng thao tác phân tích, tổng hợp trên hình đồng thời với việc tính toán trên số đo diện tích. Điều đó được thể hiện như sau:
a. Một hình được chia thành nhiều hình nhỏ thì diện tích của nó bằng tổng diện tích các hình nhỏ được chia.
b. Hai hình có diện tích bằng nhau cũng có phần chung thì hai phần còn lại có diện tích bằng nhau.
c. Nếu ghép thêm một hình vào hai hình có diện tích bằng nhau thì sẽ được hai hình mới có diện tích bằng nhau.
            Lưu ý 4: Về giảng dạy giải toán diện tích
a. Các loại toán điển hình, giáo viên cần hướng dẫn học sinh giải cẩn thận, tập luyện trên nhiều ví dụ tương tự. Để giải các bài toán này học sinh cần thực hiện các điều sau:
+ Xác định yêu cầu, tóm tắt được bài toán, phát hiện ra các tình huống quen thuộc, chuyển bài toán, phát biểu dưới dạng bài toán quen thuộc và giải bài toán theo quy trình.
+ Luôn chú ý đến khai thác bài toán, lập hệ thống bài toán liên quan, tiến tới lập sơ đồ bài toán.
b. Với các bài tập tính toán.
+ Yêu cầu nắm chắc công thức, hiểu từng đại lượng trong công thức. Biết tìm các thành phần chưa biết từ các thành phần đã cho.
+ Giải quyết từng nội dung, từng thành phần để đi đến giải quyết bài toán.
c. Với bài tập giải bằng phương pháp đại số.
 + Hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề toán đưa bài toán sang bài toán quen thuộc.
+ Tìm hiểu nội dung bài toán.
 + Phải hiểu bài toán một cách tổng thể để tránh vội vàng đi ngay vào chi tiết,...
            Sau một năm triển khai thí điểm, rút kinh nghiệm và chỉ đạo, hướng dẫn áp dụng đại trà, tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh về môn Toán có nâng lên đáng kể. Điều này cũng dễ hiểu một phần giáo viên cũng còn chưa thực hiện triệt để với nhiều lí do khác nhau (ngại khó, phải chuẩn bị, hướng dẫn học sinh chuẩn bị,…), song đại bộ phận giáo viên đều quan tâm và vận dụng sau khi được hướng dẫn, chỉ đạo của Phòng, cán bộ quản lí các trường.
            Nhờ vậy việc đổi mới phương pháp dạy học cũng đã được nhà trường và giáo viên quan tâm và đầu tư tích cực hơn,….

 
                                                       NGƯT. Nguyễn Thanh Việt                               
                               Chuyên viên Phòng GD-ĐT huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp

Nhắn tin cho tác giả
Phan Duy Nghĩa @ 21:09 11/05/2014
Số lượt xem: 2728
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM CÂU LẠC BỘ TOÁN TIỂU HỌC – XIN CHÀO VÀ HẸN GẶP LẠI

tth123_500