Gốc > SANG CHƠI NHÀ VĂN > Tập làm văn >

Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng lập luận trong làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4

1. Những thành tựu nghiên cứu về lí thuyết lập luận của Ngữ dụng học đã chỉ ra rằng, trong quá trình tiến hành hoạt động giao tiếp, để đạt được đích giao tiếp, người nói (người viết) phải lựa chọn một chiến lược giao tiếp hiệu quả và thuyết phục; trong đó, lập luận là một chiến lược giao tiếp quan trọng nhất và được sử dụng rất nhiều.

Lập luận bao gồm các yếu tố: luận cứ (lí lẽ), kết luận (kết luận có thể tường minh, cũng có thể là hàm ẩn) và các chỉ dẫn lập luận. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, lập luận là quan hệ xuyên suốt trong một phát ngôn, một đoạn văn, một văn bản. Quan hệ đó là quan hệ đi từ luận cứ đến kết luận rồi đi từ kết luận rồi đến luận cứ.
2.Trong văn miêu tả, quan hệ lập luận được thể hiện rất rõ. Vì miêu tả là nêu đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng làm cho người nghe, người đọc nhận biết sự vật, hiện tượng ấy. Việc miêu tả các sự vật, hiện tượng của người viết, người nói không phải là vô tư mà thường nhằm tới một cái đích nào đó.
Lập luận trong văn miêu tả, phần luận cứ và kết luận có sự xen lẫn cảm xúc và sự cảm nhận chủ quan của chủ ngôn cho nên tính chính xác nhiều khi không được chú trọng bằng tính thẩm mĩ và tính cảm xúc.
Có thể thấy, yếu tố lập luận luôn có mặt trong văn miêu tả vì nhờ nó mà người viết thể hiện được tư tưởng, tình cảm của mình đối với sự vật được miêu tả. Khi học sinh có kĩ năng về lập luận, bài làm của các em sẽ không còn rơi vào tình trạng rời rạc, khô cứng và tư tưởng, tình cảm của các em được thể hiện rõ, xuyên suốt cả bài.
3. Để rèn luyện kĩ năng lập luận trong làm văn miêu tả cho học sinh, giáo viên cần chú ý sử dụng những biện pháp sau:
 
3.1. Rèn luyện kỹ năng lập luận ở giai đoạn phân tích đề
3.1.1.“Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó mà người nói muốn đạt tới.” Lập luận trong giao tiếp là nhằm đạt được mục đích giao tiếp đã xác định. Muốn rèn luyện kỹ năng lập luận nói chung và kỹ năng lập luận trong bài văn miêu tả nói riêng cho học sinh thì cần giả định nhân tố mục đích giao tiếptrong đề bài cho học sinh. Bởi đểthực hiện được mục đích giả định mà đề bài cho, HS cần thể hiện quan điểm của mình qua các phương tiện ngôn ngữ khác nhau (các yếu tố chỉ dẫn quan hệ lập luận) và vận dụng các lý lẽ (luận cứ) cần thiết để thuyết phục người nghe, người đọc.Nhờ vậy, kỹ năng lập luận của HS được hình thành và phát triển một cách tự nhiên.
Chẳng hạn, cùng một đề tài là tả chiếc bút mực, GV có thể xây dựng hai đề bài có mục đích giao tiếp khác nhau.
Trong buổi lễ tổng kết năm học, em vinh dự được nhận giấy khen và phần thưởng về thành tích học sinh giỏi cấp thành phố. Một trong những món phần thưởng mà cô hiệu trưởng trao tặng em là chiếc bút “Luyện chữ đẹp” mà em hằng ao ước. Hãy tả lại chiếc bút đó cho bố mẹ em, để bố mẹ biết rằng đó là phần thưởng mà em thích nhất.
- Trong buổi lễ tổng kết năm học, em vinh dự được nhận giấy khen và phần thưởng về thành tích học sinh giỏi cấp thành phố. Một trong những món phần thưởng mà cô hiệu trưởng trao tặng em là chiếc bút mực rất đẹp. Hãy tả lại chiếc bút ấy để mọi người thấy rằng nó khác hẳn những chiếc bút khác của em.
Luyện tập trên những đề bài như thế này, HS sẽ rèn luyện được kỹ năng lập luận, kỹ năng thuyết phục người nghe, người đọc bằng các lý lẽ, dẫn chứng.
3.1.2. Khi hướng dẫn phân tích đề, ngoài việc hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi thông thường: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì?,Viết như thế nào?, GV cần giúp HS xác định: Thái độ cần phải bộc lộ qua bài viết như thế nào?. Thái độ bộc lộ khi miêu tả, đó chính là yếu tố tư tưởng, tình cảm xuyên suốt bài viết, “sợi chỉ đỏ lập luận” của bài. Nếu học sinh không trả lời câu hỏi trên thì các em sẽ rơi vào tình trạng viết lan man, không có mục đích giao tiếp cụ thể. Bài văn miêu tả sẽ lỏng lẻo, không có sự chặt chẽ, nhất quán. Chẳng hạn, khi hướng dẫn HS phân tích đề bài “Một năm có bốn mùa, mùa nào cũng có những vẻ đẹp riêng. Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm”, GV cần gợi ý để HS thấy được: bài làm cần thể hiện tình cảm, yêu mến, gắn bó của mình với quang cảnh đó để mọi người đọc lên đều thấy yêu mến nơi đó như mình.
Trong thực tế, khâu này thường bị GV xem nhẹ, không chú trọng rèn luyện cho học sinh. Hầu hết, GV tiểu học cho rằng đề bài làm văn ở cấp học này đơn giản, đọc lên là biết đề yêu cầu gì. Vì suy nghĩ đó của GV, bài làm của HS thường mắc một lỗi giống nhau đó là chỉ tập trung miêu tả đặc điểm bên ngoài của sự vật theo kiểu liệt kê khô khan, không bộc lộ được tình cảm, thái độ đánh giá của mình khi viết. Chẳng hạn, với đề bài “tả một chiếc áo mà em thích”.
“Em có rất nhiều chiếc áo mặc đi học, nhưng em thích nhất là chiếc áo mùa đông mẹ mua cho em. Nó làm bằng vải bông, bao bọc nó là màu trắng, ở bên trên có cái cổ tròn. Phía trước có một cái túi nhỏ, ở sau, có cái hình gì em nhìn không rõ. Chiếc áo có những đường may rất đều đặn”.
Trong bài viết trên của học sinh thì “em thích nhất là chiếc áo đông mẹ mua cho em”là một kết luận và được đặt lên đầu của đoạn văn. Tuy nhiên, ở những câu tiếp theo học sinh chưa đưa ra một luận cứ nào để chứng minh cho kết luận ”rất thích” của mình và những đặc điểm về chiếc áo mà học sinh đã miêu tả nó cũng giống như bao chiếc áo bình thường khác.
Vì vậy, xét về sự mạch lạc, chặt chẽ và tính xúc cảm, thuyết phục, các bài văn dạng này đều không đạt.
3.2. Rèn luyện kỹ năng lập luận ở giai đoạn quan sát, tìm ý
3.2.1. Đây là kĩ năng rất quan trọng, nhờ có nó mà bài làm của học sinh không sa vào kể lể, liệt kê một cách tràn lan không có trọng điểm và không hướng tới một kết luận cụ thể nào. Muốn tìm ý, chọn ý được trước hết học sinh cần dựa vào yêu cầu của đề bài, xây dựng ý tưởng (tư tưởng chủ đạo)  cho bài văn của mình. Từ ý tưởng học sinh sẽ có những cách lập luận khác nhau. Chẳng hạn, với đề bài “Hãy tả chiếc áo mà em thích nhất” sẽ có em chọn tả chiếc áo mới, nhưng cũng có em sẽ chọn tả một chiếc áo đã cũ nhưng gắn với một kỉ niệm nào đó. Chính những ý tưởng khác nhau như vậy sẽ dẫn học sinh tới cách viết khác nhau và có những phát hiện mới mẻ, riêng biệt về chiếc áo của mình.
3.2.2. Có thể xem việc tìm ý cho bài văn chính là việc đi tìm những luận cứ để phù hợp với kết luận mà học sinh đã xác định được trong giai đoạn phân tích đề. Với ý tưởng khác nhau học sinh sẽ có sự lựa chọn những chi tiết khác nhau để làm nổi bất ý tưởng đã chọn. Chẳng hạn, với đề bài “Hãy miêu tả một đồ chơi mà em yêu thích”, những HS khác nhau sẽ chọn tả các đồ chơi khác nhau, vì vậy, các luận cứ, các luận chứng sẽ khác nhau nhưng đều phải đưa người đọc đến kết luận “rất thích” như đề bài yêu cầu.
3.3. Rèn luyện kỹ năng lập luận ở giai đoạn lập dàn ý, viết bài
Đối với việc rèn luyện kỹ năng lập luận trong miêu tả, khi lập dàn ý và khi viết bài đều quan trọng như nhau, thực hiện lồng ghép vào nhau.
3.3.1. Sau khi đã quan sát và tìm được ý, HS phải luyện kỹ năng sắp xếp ý, lập dàn ý. Khi lập dàn ý, HS phải xác định được ý chủ đạo và sắp xếp theo một trình tự nhất định. Việc bám vào ý chủ đạo giúp cho bài văn mạch lạc, các ý triển khai lô gic, đầy đủ. Trình tự sắp xếp ý miêu tả có thể là trình tự không gian, trình tự thời gian, trình tự tâm lý. Trình tự sắp xếp ý cũng là yếu tố thể hiện ý đồ lập luận của người viết. Xét trong quan hệ toàn bài, xem bài văn miêu tả là một lập luận, mỗi đoạn ý sẽ là một luận cứ, hướng đến kết luận ngầm ẩn là tư tưởng, tình cảm, lời tâm sự của người viết gửi gắm trong đó.
3.3.2. Giai đoạn viết bài văn chính là giai đoạn hướng dẫn học sinh sắp xếp vị trí giữa luận cứ và kết luận. Khi viết bài, người biết vì tư tưởng chủ đạo đã xác định có thể thay đổi trật tự của các ý đã sắp xếp khi lập dàn ý.
Theo lí thuyết lập luận, trong một lập luận thì luận cứ và kết luận thường ở những vị trí:
(1) Luận cứ - kết luận (p – r)
(2) Kết luận – luận cứ (r – p)
(3) Luận cứ - kết luận – luận cứ (p – r – q)
Tập làm văn lớp 4  đã giới thiệu cho học sinh cấu tạo của bài văn miêu tả gồm ba phần: mở bài, thân bài và kết bài.
Với cấu trúc ba phần đó, tùy vào cách viết của học sinh mà có thể xem phần mở bài và thân bài là luận cứ, phần kết bài là kết luận giống mô hình (1), hoặc có thể xem phần mở bài là kết luận còn thân bài và kết bài là luận cứ giống như ở mô hình (2).
Bên cạnh đó, phần thân bài cũng có thể coi như là một lập luận bộ phận và giáo viên cũng có thể áp dụng các mô hình lập luận trên để hướng dẫn học sinh cách viết bài sao cho chặt chẽ. Ngoài ra, mỗi đoạn văn trong bài văn miêu tả lại là những lập luận bộ phận nhỏ hơn nữa và các câu văn sẽ là các luận cứ, kết luận.
Sau đây là một số ví dụ được HS triển khai theo các mô hình lập luận vừa nêu:
Mô hình 1: luận cứ - kết luận (p – r)
Chị mèo mướp rất thích chuột. Con chuột nào mà dã lọt vào tầm mắt chị thì khó mà có đường thoát thân. Chị ta núp vào chỗ nào kín đáo nằm im như chết. Chú chuột nào xấu số, chủ quan nghênh ngang đi lại thì sẽ bị chị ta vồ ngay không kịp trở tay. Với những cái vuốt vừa sắc vừa dính như nhựa, chị ta quần cho chú chuột đến mềm ra không còn cựa quậy nữa, chị mới đưa vào một chỗ kín ngồi chén như sợ bọ các con cún tranh mất. Nhờ có chị trong nhà mà lũ chuột không giám hoành hành nữa. Chị mèo mướp quả thật xứng đáng với danh hiệu“dũng sĩ diệt chuột”.
Mô hình 2: kết luận – luận cứ
Đàn gà trông thật xinh xắn. Đôi mắt chúng ngơ ngác nhìn quanh tỏ vẻ lạ lùng. Chúng trông giống như những em bé mới cất tiếng khóc chào đời. Đôi chân của mỗi chú gà nhỏ xíu như những chiếc tăm. Cái mỏ của chúng giống như hai vỏ trấu chắp lại vậy, vàng óng.
Mô hình 3: luận cứ - kết luận – luận cứ
            Bông cúc trắng nở khá to và có nhiều hoa nhỏ nằm trên cùng một đế hoa. Những cánh hoa hình bầu dục nằm vươn dài ra bên ngoài cùng làm thành một vòng tròn bao quanh lấy nhị hoa vàng nằm ở giữa. Cánh hoa cúc trắng xếp thành một lớp so le nhau rất cân đối nên nhìn đẹp như gương mặt chị Hằng mỗi đêm rằm. Hoa cúc là một loài hoa đẹp và đẹp nhất là vào mùa thu. Dưới ánh nắng vàng nhè nhẹ, tiết trời se lạnh, bông cúc trông càng e lệ, duyên dáng hơn. Hương hoa cúc thơm, hơi hắc nhưng đậm đà và mạnh mẽ.
3.3.3. Ngoài ra, GV cũng có thể hướng dẫn HS cách lựa chọn các chi tiết, hình ảnh mà bản thân nó cũng có giá trị lập luận (các dấu hiệu giá trị học). Bởi vì luận cứ trong đoạn văn miêu tả chủ yếu là dạng luận cứ miêu tả, nêu các đặc điểm của sự vật, hiện tượng để tái hiện các sự vật hiện tượng đó làm cho chúng hiện lên trực tiếp qua các giác quan hướng ngoại hoặc liên tưởng, nhằm hướng người đọc đến một kết luận nào đó về sự vật hiện tượng, nên mật độ thực từ xuất hiện rất cao. Mỗi đoạn có nhiều thực từ có nét nghĩa chung nào đó cùng hướng người đọc đến một kết luận – đích miêu tả của đoạn trong lập luận của văn miêu tả. Các thực từ miêu tả là những dấu hiệu chủ yếu để nhận ra hướng lập luận. Chẳng hạn, các đoạn văn sau:
- Chiếc cặp đã bị sứt chỉ ở một số đường may, miệng cặp thì đã bị tưa ra một ít. Sách vở và đồ dùng học tập thường lẫn lộn với nhau. Vào một buổi cuối học kì một năm lớp Ba, tan học, mưa tầm tã. Mưa làm ướt cặp và đường chỉ khâu dưới đáy bị bung ra, bao nhiêu sách vở, đồ dùng học tập rơi hết xuống mặt đường.
- Chiếc cặp được làm bằng chất liệu ni lông tổng hợp, màu xanh rêu, sợi to óng ánh như pha kim tuyến. Sờ vào ai cũng cảm thấy mát lạnh và mềm như nhung. Phía trên là một quai xách được làm bằng sợi dù nên rất bền. Đằng sau, có hai quai đeo được mắc vào những cái khóa sắt sáng loáng. Phía trước mặt thì tuyệt lắm! Một bức tranh vẽ hình chú ếch xanh ngồi trên chiếc lá sen cũng màu xanh để du ngoạn, xung quanh là những đóa sen hồng xòe rộng cánh như đang  đón chào những tia nắng rực rỡ của mùa hạ. Bức tranh được lồng trong một ngăn bằng giấy mủ trong, có khóa kéo đi kéo lại.
3.3.4. Để lập luận đạt hiệu quả cao, việc sử dụng các quan hệ từ (các kết tử lập luận), các trợ từ (các tác tử lập luận) trong mỗi câu, mỗi đoạn văn cũng rất quan trọng. Nó tạo nên sự liên kết chặt chẽ trong bài làm, giúp thể hiện được tình cảm, cảm xúc, thái độ của người miêu tả.
4. Tóm lại, lập luận là một kỹ năng vô cùng quan trọng trong nói, viết, cần có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn nữa về việc ứng dụng lý thuyết lập luận vào việc dạy tiếng Việt cho HS tiểu học nói chung và dạy Tập làm văn nói riêng. Chúng tôi hi vọng sẽ tiếp tục đề cập đến vấn đề này ở các bài viết khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, 2002.
2.      Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học I, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2009.
3.      Nguyễn Trí, Dạy Tập làm văn ở tiểu học, NXB Giáo dục, 2000.
4.      Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục, 2003
5.      Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt 4, 2 tập, NXB Giáo dục, 2008.
 

Chu Thị Thủy An, Đại học Vinh 

 Hồ Thanh Yến, Cao học 17, Đại học Vinh

* Bài đã đăng ở Tạp chí “Giáo chức Việt Nam”


Nhắn tin cho tác giả
Phan Duy Nghĩa @ 16:12 08/05/2014
Số lượt xem: 1155
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM CÂU LẠC BỘ TOÁN TIỂU HỌC – XIN CHÀO VÀ HẸN GẶP LẠI

tth123_500